Chuyên mục: Cây lương thực
Ngày đăng: 14/04/2021

Chia sẻ kinh nghiệm phòng trừ bệnh đạo ôn (cháy lá) lúa đạt hiệu quả cao

Bệnh đạo ôn (cháy lá) lúa là một trong những dịch hại nguy hiểm nhất trên cây lúa.

Bệnh đạo ôn gây thiệt hại năng suất trung bình từ 0,7 đến 17,5%, nếu bệnh nặng thiệt hại có thể lên đến 80% (Bonman et at..., 1986). Có nghĩa bệnh Đạo ôn có thể gây thiếu ăn cho vài trăm triệu đến vài tỉ người dân một năm, gây thiệt hại khôn lường.

1. Triệu chứng bệnh đạo ôn hại lúa

Bệnh có thể gây hại ở tất cả các giai đoạn từ thời kỳ mạ đến khi trổ chín và gây hại ở tất cả các bộ phận của cây như lá, bẹ lá, đốt thân, cổ bông, cổ gié và hạt.

Trước đây bệnh thường xuất hiện ở vụ Đông Xuân nhưng hiện nay bệnh xuất hiện hầu như quanh năm.

BenhDaoOnTrenLaLua

Hình 1: Hình ảnh bệnh đạo ôn trên lá lúa

TrieuChungBenh

Hình 2: Triệu chứng bệnh lần lượt trên lá, cổ lá, đốt thân và cổ bông

  • Trên lá lúa: Vết bệnh xuất hiện trên lá thay đổi từ vết chấm đen (chấm kim) tới hình oval có mảng xám trắng ở giữa và viền hẹp màu nâu nhạt bên ngoài, các vết bệnh lan dần kéo dài dạng hình mắt én, rộng ở giữa và nhọn ở hai đầu. Bệnh nặng nhiều vết bệnh liên kết lại với nhau làm cho lá lúa bị cháy (nên được gọi là bệnh cháy lá)
  • Trên cổ lá: bệnh tấn công ngay cổ lá giữa phiến lá và bẹ, vết bệnh có màu nâu đỏ sau chuyển qua nâu sậm, bệnh nặng làm gãy lá và lá hư.
  • Trên đốt thân: vết bệnh màu nâu làm đốt teo lại, nếu bệnh xuất hiện thời điểm lúa đang trổ thì toàn bộ bông bị lép trắng nhưng lấy tay rút lên thấy khó hơn triệu chứng lép trắng do sâu đục thân.
  • Trên cổ bông, cổ gié: bệnh tấn công ngay cổ bông hoặc cổ gié, vết bệnh màu nâu thối tóp lại làm cho toàn bộ bông hoặc từng gié bị lép. Nếu bệnh xuất hiện sớm toàn bộ bông hoặc từng gié lúa bị lép trắng.

2. Tác nhân gây bệnh đạo ôn lúa

Bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia grisea Sacc., trước kia còn gọi là Pyricularia oryzae Cav. (giai đoạn sinh sản hữu tính gọi là Magnaporthe grisea) gây hại và được ghi nhận hiện diện ở hơn 80 quốc gia trồng lúa trên thế giới.

Bệnh được tìm thấy ở Ý vào năm 1560, tại Trung Quốc vào năm 1637.

Tại Việt Nam, F. Vincents phát hiện chính thức vào năm 1921 ở Miền Nam.

Theo nhiều nghiên cứu thì bệnh ngày càng phát sinh thêm nhiều nòi mới có độc tố cao nên khó phòng trị.

Theo TS. Nguyễn Thị Phong Lan và nhóm tác giả thì tại ĐBSCL có trên 40 nòi nấm Pyricularia gây ra bệnh đạo ôn trên cây lúa.

3. Điều kiện phát sinh phát triển

Bệnh đạo ôn thường phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết âm u, giờ nắng trong ngày ít, sáng sớm có sương mù hay trời có mưa phùn, nhiệt độ thích hợp nhất trong khoảng từ 18 – 26oC.

Các yếu tố như giống nhiễm, bón phân đạm nhiều, sạ dày, lá lúa nằm ngang, phiến lá rộng, ruộng thiếu nước, cỏ dại nhiều là điều kiện thuận lợi để nấm phát sinh, phát triển và gây bệnh nặng.

Các yếu tố làm chậm hoặc ngăn cản quá trình phát sinh phát triển của bệnh đạo ôn là: giống kháng bệnh, gieo sạ thưa, có thời gian phơi đất trước khi sạ, bón đủ khoáng chất, đặc biệt là canxi, silic, kali...

Tuy nhiên về yếu tố giống kháng, các nghiên cứu gần đây có chỉ ra rằng hiện nay không có giống kháng tuyệt đối mà chỉ có giống kháng tạm thời.

Nghĩa là, giống kháng bệnh tốt trong 2 – 3 vụ đầu nhưng sau đó có thể bị nhiễm bệnh đạo ôn, thậm chí là nhiễm rất nặng.

Một số giống nhiễm nặng: Jasmine 85, Nàng Hoa 9, VD 20, RTV, OM 4900, OM 5451

4. Đặc tính sinh học

Chu trình phát triển của bệnh đạo ôn từ lúc bào tử mới xâm nhập đến khi phát tán, lây lan mạnh.

Hình 3: Chu trình phát sinh và phát triển bệnh đạo ôn trên lá lúa

Đối với bào tử gây bệnh đạo ôn lúa, nếu gặp điều kiện thuận lợi thì 24 giờ sau khi tiếp xúc với cây lúa, bào tử sẽ nảy mầm và bắt đầu xâm nhập vào bên trong mô cây.

Khoảng 48 giờ sau bệnh xuất hiện vết chấm kim, đến ngày thứ 6, 7 vết bệnh có hình mắt én và bắt đầu phóng thích bào tử để tiếp tục lây lan ra xung quanh.

Mỗi ngày một vết bệnh điển hình (mắt én) có thể phóng thích từ 2.000 – 6.000 bào tử/ ngày và phóng thích liên tục trong vòng 2 tuần.

Bào tử sinh ra ở các lá bên trên có thể nhiễm vào gié lúa, hạt lúa ở giai đoạn trổ. Do đó phòng trị bệnh đạo ôn lá không tốt thì giai đoạn lúa trổ ruộng lúa rất dễ bị nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông, cổ gié...

Điều kiện để bào tử phóng thích là nhờ nước hoặc giọt sương, còn phương tiện để bào tử lây lan xa là nhờ gió. Tuy nhiên, nếu nước nhiều, trời mưa lớn thì bào tử chậm phóng thích và ít lây lan.

5. Cách phòng trừ bệnh đạo ôn trên lúa

  • Chọn giống kháng: tuy nhiên hiện nay do các giống chất lượng cao đáp ứng được xuất khẩu thì ít kháng hoặc chỉ kháng tạm thời nên yếu tố này tùy điều kiện từng vùng mà xem xét.
  • Làm đất kỹ, vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, tạo điều kiện cho đất có thời gian nghỉ ngơi hoặc luân canh cây trồng... để cắt nguồn bệnh.
  • Quản lý không để trong ruộng có nhiều cỏ vì cỏ dại là ký chủ quan trọng của nấm gây bệnh đạo ôn.
  • Thăm đồng thường xuyên, vạch lá lúa ra để quan sát, nếu thấy vết bệnh đạo ôn mới chớm xuất hiện thì phun thuốc ngay.
  • Sạ thưa vừa phải, bón phân cân đối, tăng cường Canxi, Silic để giúp lúa cứng cây (thành lóng dày, bẹ lúa ôm sát lóng), lá lúa dày đứng thẳng (lá lúa không nằm ngang) để hạn chế lá lúa “hứng” bào tử nấm và không cho bào tử nấm nảy mầm xâm nhập vào bên trong. Ngay cả nấm xâm nhập vào bên trong cũng khó phát triển lây lan.
  • Khi sử dụng thuốc phải dùng thuốc đặc trị bệnh đạo ôn, không dùng thuốc phổ rộng hoặc dùng dưới liều quy định để tránh bệnh phát triển dai dẳng, bệnh mau tái phát và nấm dễ “lờn” thuốc.
  • Chọn thuốc có hoạt chất thế hệ mới, cơ chế tác động khác với những loại thuốc đã sử dụng nhiều năm trước để hiệu quả phòng trị tốt, không phải phun lại nhiều lần gây lãng phí và nguy cơ tồn dư thuốc BVTV cao.
  • Thường xuyên thăm đồng, vạch lá lúa quan sát kĩ, thấy có vết bệnh

Cách sử dụng phân bón lá chứa Chelate canxi, silic Hợp Trí Casi và thuốc đặc trị đạo ôn thế hệ mới Taiyou 20SC

 

Taiyou 20SC
Hợp Trí Casi

Hình 4: Taiyou 20SC và Hợp Trí Casi – giải pháp mới cho phòng trừ bệnh đạo ôn

5.1. Đối với các giống lúa ít nhiễm:

Phòng bệnh

  • Sau khi sạ 20-30 ngày (sau bón phân thúc lần 2): phun Hợp Trí Casi (40ml/bình 25 lít, nếu thấy lúa quá xanh thừa đạm thì phun 80-100ml/bình 25 lít).
  • Sau khi sạ 50-55 ngày (hoặc trước trổ 7-10 ngày): phun lại Hợp Trí Casi giống như lần 1.

Trị bệnh: Phun Taiyou 20SC và Hợp Trí Casi khi bệnh chớm xuất hiện

Đối với các giống lúa nhiễm nhẹ hoặc giống trong thời gian kháng tạm thời, sản phẩm Hợp Trí Casi (20% oxit canxi + 5% oxit silic) nếu sử dụng theo hướng dẫn có tác dụng phòng bệnh đạo ôn tương đương một loại thuốc trừ bệnh thông dụng (kết quả thí nghiệm của Trung tâm BVTV phía Nam năm 2014).

5.2. Đối với các giống lúa dễ nhiễm đạo ôn:

Phòng bệnh:

  • Sau khi sạ 20-30 ngày (sau bón phân thúc lần 2): phun Hợp Trí Casi (40ml/bình 25 lít) + Taiyou 20SC (40ml/bình 25 lít).
  • Sau khi sạ 50-55 ngày (hoặc trước trổ 7-10 ngày): phun lại Hợp Trí Casi + Taiyou 20SC giống như lần 1.

Trị bệnh: Phun Taiyou 20SC và Hợp Trí Casi khi bệnh chớm xuất hiện

RuongPhunCasiTaiyou

Hình 5: Ruộng lúa phun Hợp Trí Casi + Taiyou 20SC ruộng lúa sạch bệnh, lá đứng đẹp

Taiyou 20SC có hoạt chất Fenoxanil thế hệ mới, thuốc trị bệnh đạo ôn trên lúa bằng cách phá vỡ màng tế bào sợi nấm và ngăn chặn hình thành bào tử nấm, đồng thời thúc đẩy cây sản sinh ra Phytoalexin – một chất giúp cây tự đề kháng bệnh giống vaccine nên sau khi phun thuốc bệnh ngưng phát triển – không lây lan – chậm tái phát.

Sử dụng Taiyou 20SC kết hợp Hợp Trí Casi để phòng trừ bệnh đạo ôn thì hiệu lực sẽ cao hơn, bệnh chậm tái phát hơn đồng thời cung cấp thêm canxi, silic giúp lúa trúng mùa hơn.

TacDongCuaTaiyou20SC

Hình 6: Tác động của Taiyou 20SC lên các giai đoạn phát triển của nấm đạo ôn

5.3. So sánh hiệu quả khi sử dụng Taiyou 20SC + Hợp Trí Casi và đối chứng

DoiChung

Hình 7: Taiyou 20SC và Hợp Trí Casi so với đối chứng không phun.

Sử dụng Taiyou 20SC và Hợp Trí Casi cho thấy khả năng kiểm soát bệnh từ đẻ nhánh nuôi đòng đến trổ và hạn chế độ lan rộng hiệu quả rõ rệt trong 7 ngày sau phun.

Xem thêm: Quy trình chăm sóc lúa ngắn ngày trên đất phèn nhẹ - trung bình cập nhật năm 2021

Xem thêm các bài viết cùng chuyên mục

Liên hệ tổng đài để được tư vấn miễn phí 1800 6648